So với database instance, ASM instance có số lượng parameter ít hơn nhiều, và cơ bản ta cũng không cần phải cấu hình gì nhiều. Khi cài đặt, hay dùng các tool để quản trị, các tham số này sẽ được cập nhật tự động.

 

Để xem danh sách các parameter, ta chuyển qua instance ASM và log vào với quyền sysasm:

 

 

Một số param xác định instance (không nên thay đổi)

  • instance_type=asm
  • instance_name=+ASM
  • db_unique_name=+ASM
  • service_name=+ASM

 

Một số param ta thường quan tâm nhất

 

Init paramÝ nghĩa
asm_diskgroupsXác định các diskgroup mà ASM instance sẽ mount khi start. Thường khi start ASM instance sẽ chạy lệnh ALTER DISKGROUP ALL MOUNT => mount hết tất cả các diskgroup. Param này có thể là null, ASM instance sẽ quét các disk và tự động xác định diskgroup và mount hết.
asm_diskstringXác định đường dẫn chứa các disk asm. Nếu param này null thì nó sẽ tìm các disk asm ở đường dẫn mặc định theo OS. Ví dụ trên Linux, nếu có cài asmlib, các disk asm sẽ nằm trong /dev/oracleasm/disks
asm_power_limitXác định tốc độ rebalance khi thêm bớt disk. 0 = disable rebalancing. Tốc độ tăng dần từ 1 -> 11. Thường để mặc định là 1. Khi ta thêm/bớt disk sẽ chỉ định rõ tốc độ cho lần thêm/bớt disk đó.
asm_preferred_read_failure_groupsTham số này ta cũng hiếm khi phải quan tâm. Thường chỉ khi chạy RAC với các node ở xa nhau, có cấu hình failure group là các disk ở mỗi node, ta cấu hình tham số này trên mỗi node để ưu tiên đọc từ các disk gần hơn (thấy secondary extent thì đọc luôn, chứ không phải chạy qua remote disk đọc primary extent) .
processesThường param này ASM instance sẽ set tự động, cơ bản là đủ dùng. Tuy nhiên trong trường hợp chạy nhiều database, hay chạy RAC với lượng đọc/ghi lớn, nên set theo công thức 50*(n + 1), trong đó n là số database instance

 

Thông thường khi dùng asmca để khởi tạo ASM instance, spfile của ASM cũng sẽ nằm trong 1 diskgroup ASM chỉ định.